erbitux

Tổng quan:

- Lượt truy cập :   2407
- Nhà cung cấp :   Công Ty Nhất Anh (NHATANH CO., LTD)
- Nhà sản xuất :   Merck KGaA
- Giá tham khảo :   Liên hệ
Bảng giá | Sản phẩm | Rao vặt | Tin tức | Khuyến mãi
Dinh dưỡng | Sức khỏe | Làm đẹp | Phòng chữa bệnh | Thư giãn

Thuốc Chữa Bệnh: Thuốc ung thư

Đăng bởi: www.thitruongduoc.vn

 

Dung dịch tiêm truyền 5 mg/ml : lọ 20 ml

 

THÀNH PHẦN

cho 1 ml

Cetuximab       5 mg

 

DƯỢC LỰC

Cetuximab ức chế sự tăng sinh tế bào bướu có biểu lộ EGFR ở người & gây ra sự chết tế bào theo lập trình. Thuốc này cũng ức chế sản xuất các yếu tố sinh mạch, ức chế sự di cư các tế bào nội mô & làm giảm sự thành lập các mạch máu mới & di căn.

Ung thư đại-trực tràng

Xét nghiệm chẩn đoán hóa mô miễn dịch (EGFR pharmDxTM) được dùng để phát hiện sự biểu lộ EGFR trong các tế bào bướu. Khoảng 75% bệnh nhân ung thư đại-trực tràng di căn được tầm soát trong các thử nghiệm lâm sàng có khối u biểu lộ EGFR và vì thế được xem là thích hợp để điều trị bằng cetuximab.

Đối với ung thư đại-trực tràng di căn, tỷ lệ đột biến KRAS là khoảng 30-50%. Các dữ liệu gần đây cho thấy bệnh nhân ung thư đại-trực tràng di căn thuộc type KRAS tự nhiên có cơ hội có lợi đáng kể khi được điều trị bằng cetuximab hoặc bằng cetuximab phối hợp với hóa trị.

Đã có 5 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng và nhiều nghiên cứu hỗ trợ nghiên cứu sử dụng cetuximab đơn độc hoặc phối hợp với hóa trị. Năm nghiên cứu ngẫu nhiên này quan sát tổng cộng 3734 bệnh nhân ung thư đại-trực tràng di căn, những bệnh nhân này đều có biểu lộ EGFR và có chỉ số hoạt động cơ năng ECOG ≤ 2. Đa số bệnh nhân có chỉ số hoạt động cơ năng ECOG ≤ 1.

Các tác giả nhận thấy tình trạng KRAS là một yếu tố tiên đoán để điều trị bằng cetuximab trong 4 cuộc nghiên cứu ngẫu nhiên có nhóm chứng kể trên. Tình trạng đột biến gien KRAS xảy ra ở 2072 bệnh nhân. Chỉ có trong nghiên cứu EMR 62 202-007 các tác giả đã không phân tích tình trạng này.

Cetuximab phối hợp với hóa trị

* Nghiên cứu EMR 62 202-013: Nghiên cứu ngẫu nhiên này bao gồm những bệnh nhân ung thư đại-trực tràng di căn mà trước đó chưa được điều trị tình trạng di căn. Nghiên cứu so sánh giữa sự phối hợp cetuximab & irinotecan + 5 fluorouracil/acid folinic (5-FU/FA) truyền tĩnh mạch (599 bệnh nhân) và chỉ dùng hóa trị đơn thuần với cùng phác đồ trên (599 bệnh nhân). Tỷ lệ bệnh nhân có khối bướu type KRAS tự nhiên từ dân số thử nghiệm chung là 63%.

Các dữ liệu có giá trị từ cuộc nghiên cứu này được tóm tắt trong bảng dưới đây:

Biến số/thống kê         Dân số KRAS tự nhiên                       Dân số KRAS đột biến          

Cetuximab + FOLFIRI           FOLFIRI        Cetuximab + FOLFIRI           FOLFIRI

(N=316)          (N=350)          (N=214)          (N=183)

OS                                          

tháng, số trung vị        23.5     20.0     16.2     16.7

(95% CI)         (21.2; 26.3)      (17.4; 21.7)      (14.9; 17.9)      (14.9; 19.4)

Tỷ số nguy cơ - Hazard ratio (95% CI)          0.796 (0.670; 0.946)                1.035 (0.834; 1.284)   

Giá trị p           0.0093             0.7549

PFS                                        

Tháng, số trung vị       9.9       8.4       7.4       7.7

(95% CI)         (9.0; 11.3)        (7.4; 9.2)          (6.1; 8.0)          (7.3; 9.2)

Tỷ số nguy cơ - Hazard Ratio (95% CI)         0.696 (0.558; 0.867)                1.171 (0.887; 1.544)   

Giá trị p           0.0012             0.2648

ORR                                       

%         57.3     39.7     31.3     36.1

(95% CI)         (51.6; 62.8)      (34.6; 45.1)      (25.2; 38.0)      (29.1; 43.5)

Tỷ lệ chênh (95% CI)  2.069 (1.515; 2.826)                0.822 (0.544; 1.242)   

Giá trị p           < 0.0001                      0.3475

CI = Khoảng tin cậy, FOLFIRI = irinotecan và 5-FU/FA truyền tĩnh mạch, ORR = tỷ lệ đáp ứng khách quan (bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn hoặc đáp ứng một phần), OS = thời gian sống còn toàn bộ, PFS = thời gian sống bệnh không tiến triển.

* Nghiên cứu EMR 62 202-047: Nghiên cứu ngẫu nhiên này bao gồm những bệnh nhân ung thư đại-trực tràng di căn mà trước đó chưa được điều trị tình trạng di căn. Nghiên cứu này so sánh giữa sự phối hợp cetuximab với oxaliplatin + 5 fluorouracil/acid folinic (5-FU/FA) truyền tĩnh mạch (169 bệnh nhân) và chỉ dùng hóa trị đơn thuần với cùng phác đồ trên (168 bệnh nhân). Tỷ lệ bệnh nhân có khối bướu type KRAS tự nhiên từ dân số chung là 57%.

Các dữ liệu có giá trị từ cuộc nghiên cứu này được tóm tắt trong bảng dưới đây:

Biến số/thống kê         Dân số KRAS tự nhiên                       Dân số KRAS đột biến          

Cetuximab + FOLFOX          FOLFOX        Cetuximab + FOLFOX          FOLFOX

(N=82)            (N=97)            (N=77)            (N=59)

OS                                          

tháng, số trung vị        22.8     18.5     13.4     17.5

(95% CI)         (19.3; 25.9)      (16.4; 22.6)      (10.5; 17.7)      (14.7; 24.8)

Tỷ số nguy cơ - Hazard Ratio (95% CI)         0.855 (0.599; 1.219)                1.290 (0.873; 1.906)   

Giá trị p           0.3854             0.2004

PFS                                        

Tháng, số trung vị       8.3       7.2       5.5       8.6

(95% CI)         (7.2; 12.0)        (5.6; 7.4)          (4.0; 7.3)          (6.5; 9.4)

Tỷ số nguy cơ - Hazard Ratio (95% CI)         0.567 (0.375; 0.856)                1.720 (1.104; 2.679)   

Giá trị p           0.0064             0.0153

ORR                                       

%         57.3     34.0     33.8     52.5

(95% CI)         (49.5; 68.2)      (24.7; 44.3)      (23.4; 45.5)      (39.1; 65.7)

Tỷ số chênh (95% CI) 2.551 (1.380; 4.717)                0.459 (0.228; 0.924)   

Giá trị p           0.0027             0.0290

CI = khoảng tin cậy, FOLFOX = oxaliplatin và 5-FU/FA truyền tĩnh mạch, ORR = tỷ lệ đáp ứng khách quan (bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn hoặc đáp ứng một phần), OS = thời gian sống còn toàn bộ, PFS = thời gian sống bệnh không tiến triển.

* Nghiên cứu CA225006: Nghiên cứu ngẫu nhiên này bao gồm những bệnh nhân ung thư đại-trực tràng di căn đã được điều trị tình trạng di căn ngay từ đầu bằng phối hợp oxaliplatin + fluoropyrimidine, so sánh phối hợp Cetuximab và irinotecan (648 bệnh nhân) với điều trị bằng irinotecan đơn thuần (650 bệnh nhân). Tỷ lệ bệnh nhân có khối bướu type KRAS tự nhiên từ dân số chung là 64%.

Sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian sống còn chung không thể thấy trong cuộc nghiên cứu này. Theo tình trạng tiến triển của bệnh, việc điều trị bằng thuốc nhắm đến EGFR được sử dụng khởi đầu cho 50% bệnh nhân phối hợp trong phác đồ irinotecan đơn thuần và hầu hết các trường hợp đều cho kết quả khả quan về tỷ lệ sống còn. Tỷ lệ đáp ứng khách quan và thời gian sống còn không tiến triển bệnh được cải thiện đáng kể khi dùng cetuximab. Tuy nhiên vì không có sự xem xét độc lập về các dữ liệu hình ảnh nên cần thận trọng khi lý giải các kết quả này.

* Nghiên cứu EMR 62 202-007: Nghiên cứu ngẫu nhiên này bao gồm những bệnh nhân ung thư đại-trực tràng di căn sau khi điều trị thất bại tình trạng di căn với phác đồ có irinotecan như là điều trị sau cùng trước khi tham gia vào nghiên cứu. Nghiên cứu này so sánh phác đồ phối hợp cetuximab + irinotecan (218 bệnh nhân) với phác đồ cetuximab đơn trị (111 bệnh nhân.

Phác đồ phối hợp cetuximab + irinotecan so với phác đồ dùng cetuximab đơn thuần làmm giảm tỷ lệ nguy cơ toàn bộ tiến triển bệnh còn 46% và làm tăng đáng kể tỷ lệ đáp ứng khách quan. Trong cuộc nghiên cứu ngẫu nhiên này, việc cải thiện thời gian sống còn toàn bộ không có ý nghĩa thống kê; tuy nhiên, qua theo dõi, gần 50% bệnh nhân dùng phác đồ đơn thuần cetuximab được điều trị tiếp bằng phác đồ cetuximab + irinotecan sau khi bệnh tiến triển có thể có ảnh hưởng đến thời gian sống còn toàn bộ.

Cetuximab đơn trị

* Nghiên cứu CA225025: Nghiên cứu ngẫu nhiên trên những bệnh nhân ung thư đại-trực tràng di căn đã được điều trị trước đó tình trạng di căn bằng phác đồ có oxaliplatin, irinotecan và fluoropyrimidine nhằm so sánh việc điều trị bằng cetuximab đơn thuần phối hợp với chăm sóc nâng đỡ tích cực (287 bệnh nhân) và việc chỉ chăm sóc nâng đỡ tích cực (285 bệnh nhân). Tỷ lệ bệnh nhân có bướu type KRAS tự nhiên trong dân số bệnh nhân là 58%.

Dữ liệu về hiệu quả của nghiên cứu này được tóm tắt theo bảng dưới đây:

Biến số/thống kê         Dân số KRAS tự nhiên                       Dân số KRAS đột biến          

Cetuximab + BSC       BSC    Cetuximab + BSC       BSC

(N=117)          (N=113)          (N=81)            (N=83)

OS                                          

Tháng, số trung vị       9.5       4.8       4.5       4.6

(95% CI)         (7.7; 10.3)        (4.2; 5.5)          (3.8; 5.6)          (3.6; 5.5)

Tỷ số nguy cơ - Hazard Ratio (95% CI)         0.552 (0.408; 0.748)                0.990 (0.705; 1.389)   

Giá trị p           < 0.0001                      0.9522

PFS                                        

Tháng, số trung vị       3.7       1.9       1.8       1.8

(95% CI)         (3.1; 5.1)          (1.8; 2.0)          (1.7; 1.8)          (1.7; 1.8)

Tỷ số nguy cơ - Hazard Ratio (95% CI)         0.401 (0.299; 0.536)                1.002 (0.732; 1.371)   

Giá trị p           < 0.0001                      0.9895

ORR                                       

%         12.8     0          1.2       0

(95% CI)         (7.4; 20.3)        (-)        (0.0; 6.7)          (-)

Giá trị p           < 0.001                        0.314  

BSC = Chăm sóc hỗ trợ tốt nhất, CI = khoảng tin cậy, ORR = tỷ lệ đáp ứng khách quan (bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn hoặc đáp ứng một phần), OS = thời gian sống còn toàn bộ, PFS = thời gian sống bệnh không tiến triển.

Ung thư tế bào vảy của vùng đầu và cổ

Người ta không thực hiện các xét nghiệm hóa mô miễn dịch để phát hiện sự biểu lộ EGFR bởi vì hơn 90% bệnh nhân ung thư tế bào vảy của vùng đầu và cổ có biểu lộ EGFR.

Cetuximab phối hợp với xạ trị để điều trị bệnh ở giai đoạn tiến triển tại chỗ

* Nghiên cứu EMR 62 202-006: Nghiên cứu ngẫu nhiên này nhằm so sánh sự phối hợp cetuximab và xạ trị (211 bệnh nhân) với xạ trị đơn thuần (213 bệnh nhân) ở những bệnh nhân ung thư tế bào vảy tiến triển tại chỗ của vùng đầu & cổ.

Cetuximab bắt đầu được điều trị 1 tuần trước khi xạ trị & tiếp tục dùng cho đến khi kết thúc đợt xạ trị.

Các dữ liệu có giá trị từ cuộc nghiên cứu này được tóm tắt trong bảng dưới đây:

Biến số/thống kê         Xạ trị + cetuximab                  Xạ trị đơn thuần         

N=211             N=213

Kiểm soát tại chỗ tại vùng                                         

Tháng, số trung vị (CI 95%)   24.4     (15.7; 45.1)      14.9     (11.8; 19.9)

Tỷ số nguy cơ (CI 95%)                                 0.68 (0.52; 0.89)         

Giá trị p                                   0.005  

OS                                          

tháng, số trung vị (CI 95%)    49.0     (32.8; 62.6+)   29.3     (20.6; 42.8)

Tỷ số nguy cơ (CI 95%)                                 0.74 (0.56; 0.97)         

Giá trị p                                   0.032  

CI = Khoảng tin cậy, OS = thời gian sống còn toàn bộ, &quot;+&quot; = không bao giờ đạt đến giới hạn trên.

Những bệnh nhân có tiên lượng tốt biểu thị bằng giai đoạn bướu, tình trạng cơ năng Karnofsky (KPS) và tuổi bệnh nhân sẽ có nhiều lợi ích hơn khi được điều trị cetuximab phối hợp với xạ trị. Không thấy lợi ích lâm sàng khi dùng sự phối hợp này cho những bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên có KPS ≤ 80.

Cho đến nay, chưa có nghiên cứu đầy đủ nào về việc dùng cetuximab phối hợp với hóa-xạ trị. Vì thế tỷ số lợi ích-nguy cơ của sự phối hợp này chưa được xác lập.

Cetuximab phối hợp với phác đồ hóa trị có platinum trong điều trị bệnh tái phát và/hoặc di căn

* Nghiên cứu EMR 62 202-002: Nghiên cứu ngẫu nhiên này bao gồm những bệnh nhân ung thư tế bào vảy vùng đầu & cổ tái phát và/hoặc di căn mà chưa được hóa trị trước đó nhằm so sánh sự phối hợp cetuximab và cisplatin hoặc carboplatin = 5-fluorouracil truyền tĩnh mạch (222 bệnh nhân) với việc điều trị chỉ dùng phương pháp hóa trị (220 bệnh nhân). Phác đồ điều trị với cetuximab bao gồm tối đa là 6 chu kỳ hóa trị có platinum phối hợp với cetuximab, sau đó duy trì bằng cetuximab cho đến khi bệnh tiến triển.

Các dữ liệu có giá trị từ cuộc nghiên cứu này được tóm tắt trong bảng dưới đây:

Biến số/thống kê         Cetuximab + CTX      CTX

(N=222)          (N=220)

OS                  

tháng, số trung vị (CI 95%)    10.1 (8.6; 11.2)            7.4 (6.4; 8.3)

Tỷ số nguy cơ (CI 95%)         0.797 (0.644; 0.986)   

Giá trị p           0.0362

PFS                

tháng, số trung vị (CI 95%)    5.6 (5.0; 6.0)    3.3 (2.9; 4.3)

Tỷ số nguy cơ (CI 95%)         0.538 (0.431; 0.672)   

Giá trị p           < 0.0001         

ORR               

% (CI 95%)     35.6 (29.3; 42.3)          19.5 (14.5; 25.4)

Giá trị p           0.0001

CI = khoảng tin cậy, CTX = hóa trị có platinum, ORR = tỷ lệ đáp ứng khách quan, OS = thời gian sống còn toàn bộ, PFS = thời gian sống còn không bệnh tiến triển.

Những bệnh nhân có tiên lượng tốt biểu thị giai đoạn bướu, tình trạng cơ năng Karnofsky (KPS) và tuổi sẽ có nhiều lợi ích hơn khi được điều trị cetuximab phối hợp với phác đồ hóa trị có platinum. Ngược lại, với thời gian sống còn không bệnh tiến triển, không thấy lợi ích về thời gian sống còn toàn bộ khi dùng sự phối hợp này cho những bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên có KPS ≤ 80.

 

TÍNH SINH MIỄN DỊCH

Sự phát triển của các kháng thể kháng lai người (HACA) là tác dụng chuyên biệt cho loài của các kháng thể lai đơn dòng. HACA đo lường được tiến triển trong khoảng 3.4% số bệnh nhân được nghiên cứu. Cho đến nay, không có thông số kết luận về tác dụng trung hòa trên cetuximab. Sự hiện diện của HACA không liên quan đến sự cố bị phản ứng quá mẫn hoặc bất cứ tác dụng phụ nào của cetuximab.

 

CƠ CHẾ TÁC DỤNG

Thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) là một phần trong đường dẫn truyền tín hiệu liên quan đến việc kiểm soát sự sinh tồn tế bào, sự tiến triển chu trình tế bào, sự sinh mạch, sự di cư & sự xâm lấn hoặc di căn tế bào. Cetuximab là một kháng thể đơn dòng khảm IgG1, có tác dụng đặc hiệu kháng EGFR. Thuốc này có ái lực gắn với EGFR cao hơn khoảng 5-10 lần so với các liên kết nội sinh & ức chế chức năng của thụ thể này. Cetuximab gây ra nội bào hóa & do đó có thể dẫn đến điều hòa giảm EGFR. Cetuximab cũng nhắm vào các tế bào có chức năng miễn dịch gây độc tế bào hướng đến các tế bào bướu biểu lộ EGFR (cơ chế gây độc qua trung gian tế bào phụ thuộc kháng thể - ADCC).

Cetuximab không gắn vào các thụ thể khác thuộc nhóm HER.

Sản phẩm protein của tiền oncogen KRAS (chất tương đồng oncogen 2 virus gây bệnh sarcom Kirsten ở chuột) là một chất dẫn truyền tín hiệu về trung tâm của EGFR. Trong các bướu, sự hoạt hóa protein KRAS do EGFR có liên quan đến sự gia tăng phát triển bướu qua trung gian EGFR, đến sự sinh tồn bướu & sự sinh sản các yếu tố tiền sinh mạch.

KRAS là một trong những oncogen thường bị hoạt hóa nhất trong khối ung thư ở người. Sự đột biến gien KRAS gây ra sự hoạt hóa cơ bản protein KRAS mà không phụ thuộc vào quá trình dẫn truyền tín hiệu EGFR.

 

DƯỢC ĐỘNG HỌC

Truyền tĩnh mạch cetuximab cho thấy dược động học phụ thuộc liều với liều hàng tuần thay đổi từ 5-500 mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể. Khi sử dụng cetuximab với liều khởi đầu 400 mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể, thể tích phân bố trung bình đạt mức tương đương với không gian mạch máu (2.9 l/m2, thay đổi từ 1.5-6.2 l/m2). Cmax trung bình (± độ lệch chuẩn) là 185 ± 55 microgam/mL. Độ thanh thải trung bình là 0.022 l/giờ/m2 bề mặt cơ thể. Cetuximab có thời gian bán thải dài với giá trị thay đổi từ 70-100 giờ với liều đích.

Nồng độ cetuximab trong huyết thanh đạt đến mức ổn định sau 3 tuần điều trị cetuximab đơn thuần. Nồng độ đỉnh trung bình của cetuximab là 155.8 microgam/mL trong tuần thứ 3 và 151.6 microgam/mL vào tuần thứ 8, trong khi đó nồng độ dưới đường cong trung bình tương ứng là 41.3 và 55.4 microgam/mL. Trong một nghiên cứu điều trị cetuximab phối hợp với irinotecan, nồng độ dưới đường cong trung bình của cetuximab là 50.0 microgam/mL trong tuần 12 và 49.4 microgam/mL trong tuần 36.

Có nhiều con đường được mô tả là góp phần chuyển hóa các kháng thể. Tất cả các con đường này đều liên quan đến sự sinh thoái biến các kháng thể thành các phân tử nhỏ hơn.

Một phân tích tổng hợp tất cả các nghiên cứu lâm sàng cho thấy rằng các đặc điểm dược động học của cetuximab không bị ảnh hưởng bởi chủng tộc, tuổi tác, giới tính và tình trạng gan hoặc thận.

 

AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG

Những biến đổi ngoài da phụ thuộc liều, bắt đầu xuất hiện ở nồng độ liều tương đương với ở người, là những biểu hiện chủ yếu trong các nghiên cứu độc tính trên động vật. Một nghiên cứu độc tính trên phôi thai được tiến hành ở khỉ Cynomolgus cho thấy không có dấu hiệu gây quái thai. Tuy nhiên các tác giả thấy có sự tăng tỷ lệ sẩy thai phụ thuộc liều.

Các dữ liệu tiền lâm sàng về tính gây độc cho gen & tính dung nạp tại chỗ kể cả những tai biến về đường truyền tĩnh mạch cho thấy không có nguy hại đặc biệt nào ở người.

Hiện tại chưa có các nghiên cứu chính thức nào thực hiện trên động vật nhằm xác định tiềm năng gây ung thư của cetuximab hoặc xác định tính gây vô sinh ở nam và nữ ở thuốc này.

Nghiên cứu độc tính khi dùng cùng lúc cetuximab với các thuốc hóa trị cũng chưa được thực hiện.

Hiện tại cũng chưa có các dữ liệu tiền lâm sàng về tác dụng của cetuximab đến sự lành vết thương. Tuy nhiên, các thí nghiệm về sự lành vết thương tiền lâm sàng cho thấy các thuốc ức chế tyrosine kinase chọn lọc EGFR có làm chậm lành vết thương.

 

CHỈ ĐỊNH

Erbitux được chỉ định để điều trị bệnh nhân bị ung thư đại-trực tràng di căn thuộc type KRAS tự nhiên, có biểu lộ EGFR

- Dùng phối hợp với hóa trị

- Dùng đơn thuần cho các bệnh nhân thất bại điều trị với các phác đồ có oxaliplatin và irinotecan và những bệnh nhân không dung nạp irinotecan.

Erbitux được chỉ định để điều trị bệnh nhân bị ung thư tế bào vảy vùng đầu và cổ

- Dùng phối hợp với xạ trị khi bệnh tiến triển tại chỗ

Dùng phối hợp với phác đồ hóa trị có platinum khi bệnh tái phát và/hoặc di căn.

 

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Không dùng Erbitux ở những bệnh nhân quá mẫn cảm với cetuximab (độ 3 hoặc 4 theo tiêu chuẩn độc tính thường gặp của Viện ung thư Quốc gia Hoa kỳ - NCI-CTC).

Trước khi bắt đầu điều trị phối hợp, phải lưu ý xem có chống chỉ định điều trị cùng lúc với các thuốc hóa trị hoặc với xạ trị hay không.

 

CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG VÀ THẬN TRỌNG LÚC DÙNG

- Phản ứng liên quan đến tiêm truyền:

Nếu bệnh nhân bị phản ứng liên quan đến tiêm truyền truyền mức độ nhẹ hoặc trung bình, có thể giảm tốc độ truyền. Khuyến cáo nên duy trì tốc độ truyền thấp hơn cho những lần truyền sau.

Đã có những báo cáo về những phản ứng nghiêm trọng liên quan đến tiêm truyền ở bệnh nhân điều trị bằng Erbitux. Những triệu chứng thường xảy ra trong lần truyền đầu tiên và tối đa là 1 giờ sau khi kết thúc việc tiêm truyền, nhưng có thể xảy ra sau nhiều giờ hơn ở những lần truyền sau. Khuyến cáo nên cảnh báo bệnh nhân về khả năng có thể xảy ra phản ứng muộn này và hướng dẫn họ liên hệ ngay với bác sĩ nếu các phản ứng liên quan đến tiêm truyền xảy ra. Nếu phản ứng liên quan đến tiêm truyền nghiêm trọng xảy ra, ngay lập tức ngưng dùng Erbitux và điều trị cấp cứu. Khuyến cáo lưu ý đặc biệt đối với bệnh nhân có tình trạng cơ năng kém và bệnh lý tim, phổi trước đó.

- Rối loạn hô hấp:

Các trường hợp cá thể bị bệnh phổi mô kẽ chưa rõ có liên quan đến Erbitux hay không đã được báo cáo. Nếu bệnh nhân được chẩn đoán là bệnh phổi mô kẽ thì nên ngừng điều trị Erbitux và phải tiến hành điều trị thích hợp bệnh lý phổi này.

- Phản ứng ngoài da:

Nếu bệnh nhân bị những phản ứng ngoài da nghiêm trọng (≥ độ 3, theo Tiêu chuẩn độc tính thường gặp của Viện ung thư Quốc gia Hoa kỳ - NCI-CTC), nên ngừng việc điều trị Erbitux. Việc điều trị chỉ có thể bắt đầu lại nếu phản ứng ngoài da được xử lý xuống còn độ 2. Nếu phản ứng ngoài da nghiêm trọng xảy ra lần đầu, việc điều trị có thể bắt đầu lại mà không cần thay đổi liều lượng.

Nếu phản ứng ngoài da nghiêm trọng xảy ra lần thứ hai hoặc thứ ba, phải tiếp tục ngừng điều trị Erbitux. Chỉ bắt đầu điều trị lại bằng Erbitux với liều thấp hơn (200 mg/m2 bề mặt cơ thể sau tai biến lần hai và 150 mg/m2 sau tai biến lần ba) nếu các phản ứng ngoài da được xử lý xuống còn độ 2.

Nếu phản ứng ngoài da nghiêm trọng xảy ra đến lần thứ tư hoặc các phản ứng này không được xử lý xuống đến độ 2 trong khi ngừng điều trị Erbitux thì phải dừng vĩnh viễn điều trị Erbitux.

- Rối loạn điện giải:

Thường xảy ra giảm liên tục nồng độ magnesium trong huyết thanh và có thể gây giảm magnesium máu nghiêm trọng. Tình trạng này có thể hồi phục sau khi ngừng điều trị Erbitux. Ngoài ra, có thể xảy ra giảm kali máu do tiêu chảy. Giảm canxi trong máu có thể xảy ra, đặc biệt trong điều trị phối hợp với phác đồ hóa trị có platinum, tần xuất giảm canxi máu nghiêm trọng có thể tăng.

Khuyến cáo nên xác định nồng độ điện giải huyết thanh trước & định kỳ trong thời gian điều trị bằng Erbitux. Nên bù điện giải thích hợp.

- Giảm bạch cầu đa nhân trung tính và biến chứng nhiễm trùng liên quan:

Bệnh nhân được điều trị bằng Erbitux phối hợp với hóa trị có platinum sẽ có nguy cơ cao bị giảm bạch cầu đa nhân trung tính nghiêm trọng, tình trạng này có thể dẫn đến các biến chứng nhiễm trùng tiếp theo như sốt giảm bạch cầu, viêm phổi hoặc nhiễm trùng. Nên theo dõi cẩn thận những bệnh nhân này, đặc biệt là những người có sang thương ngoài da, viêm niêm mạc hay tiêu chảy vì dễ bị nhiễm trùng hơn.

- Các rối loạn tim mạch:

Sự gia tăng tần suất các trường hợp biến cố tim mạch nặng & đôi khi gây tử vong và các trường hợp tử vong do điều trị đã được quan sát thấy trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư tế bào vảy đầu và cổ và ung thư đại-trực tràng. Trong vài nghiên cứu (ung thư phổi không tế bào nhỏ) mối liên quan với tuổi ≥ 65 được ghi nhận. Khi kê đơn Erbitux, nên lưu ý đến tình trạng tim mạch của bệnh nhân và các hoạt chất gây độc trên tim mạch được sử dụng đồng thời như fluoropyrimidines.

- Bệnh nhân ung thư đại-trực tràng có gen KRAS đột biến:

Erbitux không nên sử dụng điều trị cho bệnh nhân ung thư đại-trực tràng có gen KRAS đột biến hoặc bệnh nhân mà tình trạng KRAS của bướu chưa xác định. Kết quả từ những nghiên cứu lâmsàng cho thấy sự cân bằng giữa lợi ích-nguy cơ âm tính ở bệnh nhân có KRAS đột biến.

Những nghiên cứu lâm sàng cho thấy một kết quả âm tính trong sự cân bằng giữa lợi ích-nguy cơ ở bệnh nhân có KRAS đột biến.

- Phối hợp điều trị:

Khi phối hợp điều trị giữa Erbitux và các thuốc hóa trị, nên tham khảo thông tin sản phẩm của những thuốc này.

Hiện tại chỉ có ít kinh nghiệm về việc sử dụng Erbitux phối hợp với xạ trị trong điều trị ung thư đại-trực tràng.

- Các trường hợp đặc biệt:

Cho đến nay, các nghiên cứu chỉ được thực hiện ở những bệnh nhân có chức năng gan, thận tốt (creatinine huyết thanh ≤ 1.5 lần, các men transaminase ≤ 5 lần và bilirubin trong máu ≤ 1.5 lần giới hạn trên của mức bình thường). Erbitux chưa được nghiên cứu ở các bệnh nhân bị một hoặc nhiều các thông số xét nghiệm bất thường sau: hemoglobin < 9g/dl; số lượng bạch cầu < 3000/mm3, số lượng tuyệt đối của bạch cầu đa nhân trung tính < 1500/mm3, tiểu cầu < 100000/mm3.

- Trẻ em:

Tính an toàn và hiệu quả của cetuximab ở bệnh nhân dưới 18 tuổi chưa được chứng minh.

- Người già:

Không cần điều chỉnh liều ở người già, nhưng kinh nghiệm dùng thuốc này ở người già ≥ 75 tuổi còn hạn chế.

 

LÚC CÓ THAI VÀ LÚC NUÔI CON BÚ

EGFR có liên quan đến sự phát triển phôi thai. Các nghiên cứu hạn chế ở động vật cho thấy cetuximab qua được nhau thai và các kháng thể IgG1 khác cũng qua được hàng rào nhau thai. Những dữ liệu trên động vật cho thấy không có bằng chứng cetuximab gây quái thai. Tuy nhiên các tác giả thấy có sự tăng tỷ lệ sẩy thai phụ thuộc liều. Hiện tại chưa có những dữ liệu đầy đủ về ảnh hưởng của cetuximab đến phụ nữ có thai. Các nhà nghiên cứu khuyến cáo là chỉ nên sử dụng cetuximab cho phụ nữ có thai hoặc cho bất cứ phụ nữ nào không áp dụng đầy đủ các biện pháp tránh thai nếu như điều này có lợi nhiều hơn so với nguy cơ cho thai nhi.

Cũng không nên cho con bú trong quá trình điều trị bằng cetuximab và cho đến 2 tháng sau liều cetuximab cuối cùng, bởi vì hiện nay chưa biết được cetuximab có tiết qua sữa hay không.

 

TƯƠNG TÁC THUỐC

Khi phối hợp điều trị Erbitux với các phác đồ hóa trị có platinum, tần suất bị giảm bạch cầu nghiêm trọng hoặc giảm bạch cầu đa nhân trung tính nghiêm trọng tăng lên, và như thế sẽ đưa đến tỷ lệ bị các biến chứng nhiễm trùng như số giảm bạch cầu, viêm phổi và nhiễm trùng máu cao hơn so với chỉ hóa trị đơn thuần với phác đồ có platinum (xem thêm mục &quot;Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng&quot;.

Khi điều trị phối hợp Erbitux với fluoropyrimidines, tần suất bị thiếu máu cục bộ cơ tim kề cả nhồi máu cơ tim và suy tim sung huyết cũng như tần suất bị hội chứng tay-chân (lòng bàn tay, lòng bàn chân bị đỏ do loạn dưỡng) cũng tăng hơn so với chỉ dùng fluoropyrimidines đơn thuần.

Một nghiên cứu chính thức về tương tác thuốc với irinotecan ở người cho thấy không có sự thay đổi về dược động học ở cả 2 thuốc này. Những dữ liệu lâm sàng cho thấy không ảnh hưởng đến tính an toàn của Erbitux. Hiện tại chưa có nghiên cứu nào khác về tính tương tác ở người với thuốc Erbitux.

 

TÁC DỤNG NGOẠI Ý

Những tác dụng phụ được liệt kê dưới đây có thể xảy ra khi điều trị với Erbitux.

Những định nghĩa về thuật ngữ tần suất sau đây được sử dụng cho các tác dụng phụ:

Rất thường gặp (≥ 1/10)

Thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10)

Ít gặp (≥ 1/1000 đến < 1/100)

Hiếm gặp (≥ 1/10000 đến < 1/1000)

Rất hiếm gặp (< 1/10000)

Không rõ tần suất (không thể ước tính tần suất từ những dữ liệu có sẵn)

Dấu sao  chỉ những thông tin bổ sung vào các tác dụng ngoại ý tương ứng được cung cấp bên dưới.

Rối loạn hệ thống thần kinh:

Thường gặp: Nhức đầu

Rối loạn mắt:

Thường gặp: Viêm kết mạc

Ít gặp: Viêm củng mạc, viêm giác mạc

Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất:

Ít gặp: Thuyên tắc phổi

Rối loạn hệ tiêu hóa:

Thường gặp: Tiêu chảy, buồn nôn, nôn ói

Rối loạn da và mô dưới da:

Rất thường gặp: Phản ứng ngoài da*

Không rõ tần suất: Bội nhiễm sang thương ngoài da*

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng

Rất thường gặp: Giảm magnesium trong máu

Thường gặp: Mất nước, đặc biệt thứ phát sau tiêu chảy hoặc viêm niêm mạc; giảm canxi trong máu, chán ăn có thể dẫn đến sút cân

Rối loạn mạch máu:

Ít gặp: Huyết khối tĩnh mạch sâu

Các rối loạn toàn thân và tình trạng liên quan đến vị trí tiêm thuốc:

Rất thường gặp: Các phản ứng liên quan đến tiêm truyền* từ nhẹ đến trung bình, viêm niêm mạc từ nhẹ đến trung bình có thể dẫn đến hiện tượng chảy máu mũi

Thường gặp: Các phản ứng liên quan đến tiêm truyền* nghiêm trọng, mệt mỏi

Rối loạn hệ gan mật:

Rất thường gặp: Tăng men gan (ASAT, ALAT, AP).

Thông tin bổ sung

Nói chung, không có những khác biệt về lâm sàng liên quan đến giới tính.

Những phản ứng liên quan đến tiêm truyền

Rất thường gặp những phản ứng từ nhẹ đến trung bình liên quan đến tiêmtruyền bao gồm các triệu chứng như sốt, ớn lạnh, chóng mặt hoặc khó thở xảy ra chủ yếu có liên quan đến lần truyền Erbitux đầu tiên.

Những phản ứng nghiêm trọng liên quan đến tiêm truyền có thể cũng thường xảy ra, hiếm khi gây tử vong. Các phản ứng này thường tiến triển trong vòng 1 giờ sau khi bắt đầu truyền Erbitux, nhưng cũng có thể xảy ra sau vài giờ hoặc ở những lần truyền tiếp theo. Mặc dù người ta chưa biết rõ cơ chế nhưng một số trường hợp có thể có bản chất là phản ứng phản vệ hoặc dạng phản vệ và có thể bao gồm các triệu chứng như co thắt phế quản, nổi mày đay, tăng hoặc giảm huyết áp, bất tỉnh hoặc bị sốc. Hiếm trường hợp có thể có đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim hoặc ngưng tim.

Để điều trị lâm sàng các phản ứng liên quan đến tiêm truyền, nên xem trong mục &quot;Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng&quot;.

Các phản ứng ngoài da

Các phản ứng ngoài da có thể tiến triển trên 80% bệnh nhân, chủ yếu hiện diện dưới dạng các sẩn dạng mụn trứng cá và/hoặc với tần suất ít hơn có thể gặp ở dạng sẩn ngứa, khô da, bong vảy, rụng tóc hoặc rụng móng. Khoảng 15% phản ứng ngoài da là nghiêm trọng, bao gồm những trường hợp hoại tử da. Đa phần các phản ứng ngoài da xảy ra trong vòng 3 tuần đầu điều trị. Nói chung các rối loạn này có thể điều trị khỏi mà không để lại di chứng gì sau khi ngưng thuốc nếu có điều chỉnh liều theo khuyến cáo. Theo Tiêu chuẩn độc tính thường gặp của Viện ung thư Quốc gia Hoa kỳ - NCI-CTC, phản ứng da độ 2 là khi có nổi sẩn đến 50% bề mặt cơ thể, phản ứng ngoài da độ 3 là nổi sẩn ≥ 50% bề mặt cơ thể.

Những sang thương ngoài da do Erbitux có thể làm bệnh nhân dễ bị bội nhiễm (ví dụ bội nhiễm S.aureus), có thể dẫn đến những biến chứng tiếp theo như viêm mô tế bào, viêm tấy hoặc có khả năng dẫn đến tử vong, dẫn đến hội chứng chốc đầu do staphylococcus hoặc nhiễm trùng.

 

ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP

Khi phối hợp điều trị Erbitux với các thuốc hóa trị, cần quan tâm đến thông tin sản phẩm của các thuốc hóa trị này.

Để biết các tác dụng phụ khi kết hợp thuốc hóa trị với Erbitux, xem mục &quot;Tương tác thuốc&quot;.

Khi phối hợp điều trị cetuximab với xạ trị tại chỗ vùng đầu cổ, ngoài tác dụng phụ của thuốc này còn có thể các tác dụng phụ của xạ trị tại chỗ (viêm mô tế bào, viêm da do xạ, khó nuốt hoặc giảm bạch cầu, mà chủ yếu là giảm bạch cầu lymphô). Trong một nghiên cứu lâm s àng ngẫu nhiên có nhóm chứng với 424 bệnh nhân, tỷ lệ viêm da do xạ cấp tính nghiêm trọng cũng như viêm da trễ do xạ ở những bệnh nhân được xạ trị phối hợp với Erbitux hơi cao hơn so với những bệnh nhân được xạ trị đơn thuần.

 

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG

Erbitux phải được sử dụng dưới sự giám sát của bác sĩ có kinh nghiệm trong việc sử dụng thuốc chống ung thư. Cần phải theo dõi chặt chẽ trong suốt thời gian truyền Erbitux và cho đến ít nhất 1 giờ sau khi kết thúc việc truyền thuốc. Phải sẵn sàng các phương tiện hồi sức.

Trước khi truyền lần đầu, phải cho bệnh nhân sử dụng trước thuốc kháng histamine và corticosteroid. Các thuốc sử dụng trước này được khuyến cáo dùng trước cho tất cả các lần truyền Erbitux tiếp theo.

Trong tất cả các chỉ định, Erbitux được dùng 1 lần mỗi tuần, với liều đầu tiên là 400 mg Erbitux/m2 bề mặt cơ thể với thời gian truyền được khuyến cáo là 120 phút. Tất cả những liều truyền hàng tuần tiếp theo là 250 mg/m2 bề mặt cơ thể với thời gian truyền được khuyến cáo là 60 phút. Tốc độ truyền tối đa không quá 10 mg/phút.

Ung thư đại-trực tràng

Đối với những bệnh nhân ung thư đại-trực tràng di căn, Erbitux được sử dụng phối hợp với hóa trị hoặc đơn trị. Xét nghiệm phát hiện đột biến gen KRAS phải được thực hiện trước khi truyền Erbitux lần đầu. Việc thực hiện phương pháp xét nghiệm đã chuẩn hóa tại phòng xét nghiệm có kinh nghiệm là rất quan trọng.

Khi thay đổi liều điều trị hoặc liều dùng được khuyến cáo khi dùng đồng thời với các thuốc hóa trị, nên tham khảo thông tin sản phẩm của những thuốc này. Không được dùng các thuốc hóa trị sớm hơn 1 giờ sau khi kết thúc truyền Erbitux.

Khuyến cáo tiếp tục điều trị Erbitux cho đến khi bệnh tiến triển.

Ung thư tế bào vảy vùng đầu và cổ

Điều trị đồng thời Erbitux với xạ trị đối với những bệnh nhân bị ung thư tế bào vảy vùng đầu và cổ tiến triển tại chỗ. Nên bắt đầu điều trị Erbitux 1 tuần trước khi xạ trị và tiếp tục điều trị với Erbitux cho đến khi kết thúc đợt xạ trị.

Đối với những bệnh nhân bị ung thư tế bào vảy vùng đầu và cổ tái phát và/hoặc di căn, Erbitux được sử dụng phối hợp với các phác đồ hóa trị có platinum và sau đó duy trì bằng Erbitux cho đến khi bệnh tiến triển. Không được sử dụng hóa trị sớm hơn 1 giờ sau khi kết thúc điều trị bằng Erbitux.

Hướng dẫn cách sử dụng và xử lý

Erbitux 5mg/ml được tiêm truyền tĩnh mạch với một bơm truyền dịch, một bình nhỏ giọt hoặc 1 bơm ống tiêm. Phải sử dụng một đường truyền riêng biệt để truyền Erbitux và đường truyền này phải được rửa sạch bằng dung dịch Natri chloride vô khuẩn 9mg/ml (NaCl 0.9%) khi kết thúc truyền thuốc.

Erbitux 5mg/ml là một dung dịch không màu.

Erbitux 5mg/ml tương hợp với:

* Các loại túi PE (polyethylene), EVA (ethyl vinyl acetate) hoặc PVC (polyvinyl chloride),

* Các loại bộ dây truyền PE, EVA, PVA, TP (polyolefine thermoplast) hoặc PUR (polyurethane),

* Các loại bơm tiêm PP (polypropylene) dùng cho bơm ống tiêm.

Erbitux không chứa bất cứ chất bảo quản kháng khuẩn hoặc chất kìm khuẩn. Vì vậy phải bảo đảm xử lý vô khuẩn khi chuẩn bị truyền thuốc. Khuyến cáo phải dùng ngay sau khi mở lọ thuốc.

Chuẩn bị Erbitux 5mg/ml như sau:

Khi sử dụng với một bơm tiêm truyền hoặc một bình nhỏ giọt (pha loãng với dung dịch NaCl 9mg/ml (0.9%):

Lấy một túi NaCl 0.9% với thể tích vừa đủ. Tính toán thể tích Erbitux cần thiết. Dùng một ống tiêm và kim tiêm vô khuẩn thích hợp rút ra một lượng vừa đủ dung dịch NaCl 0.9%. Lấy một ống tiêm và kim tiêm khác. Rút một lượng Erbitux cần thiết từ lọ thuốc. Bơm lượng Erbitux này vào túi NaCl 0.9% đã chuẩn bị. Lặp lại động tác này cho đến khi có được thể tích Erbitux đã tính toán. Nối hệ thống dây truyền vào và đuổi khí trong dây truyền bằng dung dịch Erbitux đã pha loãng trước khi truyền. Dùng một bình nhỏ giọt hoặc một bơm truyền để truyền thuốc. Lắp đặt và kiểm soát tốc độ truyền như đã giải thích ở trên.

Khi sử dụng với một bơm tiêm truyền hoặc một bình nhỏ giọt (không pha loãng):

Tính toán liều Erbitux cần thiết. Dùng một ống tiêm thích hợp (tối thiểu là 50 ml) và gắn vào một kim tiêm thích hợp rút một lượng Erbitux cần thiết từ lọ thuốc. Bơm lượng Erbitux này vào một túi hoặc một bình chứa đã hút chân không vô khuẩn. Lặp lại động tác này cho đến khi có được thể tích Erbituxđã tính toán. Nối hệ thống dây truyền và đuổi khí trong dây truyền với dung dịch Erbitux trước khi truyền. Dùng một bình nhỏ giọt hoặc một bơm tiêm truyền để truyền thuốc. Thiết lập và kiểm soát tốc độ truyền như đã giải thích ở trên.

Khi sử dụng với một bơm ống tiêm: Tính toán liều Erbitux cần thiết. Lấy một ống tiêm và kim tiêm rút một lượng Erbitux cần thiết từ lọ chứa. Lấy kim tiêm ra và đặt ống tiêm vào hệ thống bơm. Nối dây truyền vào hệ thống bơm, thiết lập và kiểm soát tốc độ truyền như đã giải thích ở trên và bắt đầu truyền sau khi đã đuổi khí trong dây truyền bằng Erbitux hoặc dung dịch NaCl 0.9% vô khuẩn. Nếu cần thiết, lặp lại động tác này cho đến khi thể tích Erbitux đã tính toán được truyền hết.

 

TƯƠNG KỴ

Không được pha trộn Erbitux với những thuốc tiêm truyền tĩnh mạch khác ngoại trừ những thuốc được đề cập đến trong mục &quot;Hướng dẫn sử dụng và xử lý&quot;. Phải sử dụng một đường truyền riêng biệt cho Erbitux.

 

QUÁ LIỀU

Cho đến nay, có ít kinh nghiệm khi sử dụng liều đơn > 400 mg/m2 bề mặt cơ thể hoặc liều dùng hàng tuần > 250 mg/m2 bề mặt cơ thể.

 

BẢO QUẢN

Bảo quản trong tủ lạnh (2-8oC).

 

ĐỘ ỔN ĐỊNH

Nếu dung dịch đã pha như đã mô tả ở phần trên, độ ổn định hóa học và vật lý khi sử dụng của dung dịch Erbitux được chứng minh trong 48 giờ ở 25oC.

Erbitux không chưa bất kỳ chất bảo quản kháng khuẩn hoặc kìm khuẩn. Sử dụng ngay sau khi mở lọ thuốc ra. Nếu không sử dụng ngay, thời gian và điều kiện bảo quản trước khi sử dụng là trách nhiệm của người sử dụng; thông thường không nên để kéo dài hơn 24 giờ ở nhiệt độ 2-8oC.

 

TagsTin tứcSức khoẻThể thao, Thuốc tâySức khoẻ phụ nữThuốc bổCây thuốcÔ tô, Lịch sử, Truyền hìnhQuốc tếSức khoẻ trẻ emNghe nhạcBất động sảnDanh bạ, Bệnh viện, Nhà thuốc, Kênh phân phốiVideoHỏi đápThuốc giảm cânBảng giáMẹo vặtDịch bệnhDanh y ViệtTrang điểmDinh dưỡngĐông nam dược, Sản phẩm khácRao vặtTin Y DượcKinh tếKhuyến mãiXe cổNhà đất, Bệnh trĩSinh lý nữ, Thuốc tim mạch.